Translate this page to EnglishEnglish Translate this page to FranceFrance Translate this page to DeutschDeutsch Translate this page to ItalianItalian Translate this page to JapaneseJapan Translate this page to spainianSpain Translate this page to PortugesePortugal Translate this page to russianRussia Back to VietnameseVietnam
quangthai


free image hosting
free image hosting






free image hosting
free image hosting

8 chiêu tối ưu hóa Windows XP bằng Registry


1. Tăng tốc cho menu Start

Đây là một mẹo “tweak” cái Registry rất đơn giản nhưng có thể giúp tăng tốc mở menu Start và các menu phụ của nó.

Mở Registry Editor, chọn mục HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Click đúp chuột lên icon MenuShowDelay ở cánh bên phải. Trên hộp thoại Edit String, thay 'Value data' từ giá trị mặc định 400 (milliseconds) bằng giá trị nhỏ hơn (tức nhanh hơn), thí dụ là 0. Ngược lại, nếu thấy menu Start xuất hiện quá nhanh đối với mình, bạn có thể chỉnh cho nó mở chậm lại, có thể tới 4000 (tức 4 giây). Xong xuôi, nhấn Enter.
++++++++++++++++++++

2. Đóng các ứng dụng nhanh hơn

Vội đi đâu đó, bạn phải bye Windows ngay thôi. Nhưng khi thoát một chương trình hay đóng Windows, bạn phải chờ nóng cả ruột để các ứng dụng nào đó đóng lại thì mới có thể shut down được. Sau một lúc chờ đợi mấy gã ứng dụng thoát ra, Windows cũng phát nóng ruột bèn tung ra cái hộp thoại End Program để bạn có thể buộc các ứng dụng kia phải đóng ngay lại.

Bạn có thể giảm thời gian chờ đợi các ứng dụng đang chạy đóng lại bằng mẹo mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop, sau đó click đúp lên icon của hai mục bên cánh phải:

1. HungAppTimeout, thay giá trị “Value data” từ mặc định là 5000 (milliseconds) xuống còn chừng 3000 (tức 3 giây) hay 2500.

2. WaitToKillAppTimeout, thay giá trị “Value data” từ mặc định là 20000 (20 giây) bằng giá trị thời gian mà bạn có thể chờ được (1000ms có nghĩa là 1 giây đó bạn nhé).

Nhấn Enter.

Nhưng không phải chỉ có các ứng dụng đang chạy mới làm quá trình shut down Windows trở nên chậm chạp đâu nhé. Nhiều quá trình xử lý của Windows XP (gọi là services) đang chạy cũng làm tăng thời gian chờ đợi shut down. Bạn có thể giảm thời gian đóng của các dịch vụ Windows này bằng cách mở Registry Editor, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control, click đúp lên icon WaitToKillServiceTimeout bên cánh phải. Thay đổi giá trị mặc định của 'Value data' từ 20000 (20 giây) bằng thời gian mà bạn cho phép các dịch vụ đóng. Thí dụ 5000 (5 giây). Nhấn Enter. Xin lưu ý: Có một số dịch vụ sẽ tự động tăng thời gian chờ của mình lên mức cần thiết đủ để có thể dọn dẹp tác vụ của mình trước khi đóng.


Xin rỉ tai một bí mật: Bạn có thể buộc Windows phải tự động đóng các ứng dụng đang treo mà không cần phải làm phiền bạn với cái hộp thoại End Program nữa. Bạn mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Click đúp lên icon AutoEndTasks ở cánh phải và thay đổi 'Value data' từ 0 thành 1. Nhấn Enter. (Để khôi phục lại chức năng hộp thoại End Program mặc định của Windows, bạn chỉ cần nhập lại giá trị mặc định của AutoEndTasks là 0.) Tuy nhiên, bạn bè cũng xin nói thật với nhau: Việc chọn cho phép các vụ tự động tắt không cần Windows thông báo như thế có thể gây tổn hại cho các thiết đặt hệ thống do buộc các ứng dụng phải quýnh quáng đóng quá nhanh, không kịp thực hiện các bước chuẩn bị và dọn dẹp các tàn tích do chúng tạo ra trong quá trình chạy. Cách dung hòa là bạn vẫn cho Windows thông báo End Program, nhưng giảm thời gian chờ đóng của các ứng dụng đang chạy như vừa trình bày.
++++++++++++++++++++++

3. Thay đổi kích thước wallpaper

Bình thường thì các hình nền wallpaper được thiết kế cho vừa với độ phân giải của màn hình. Nếu ảnh lỡ nhỏ hơn một chút thì bạn vẫn có thể dùng tùy chọn Stretch trong Properties ® Desktop ® Position để kéo nó ra cho phủ hết màn hình desktop.

Nhưng cũng có khi bạn muốn đưa lên desktop một hình khá nhỏ hay đơn giản là muốn cái desktop của mình hơi bị lạ mắt, như cho wallpaper nằm ép về một bên nào đó.

Bạn mở Registry Editor, chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop và xem ở bên cánh phải đã có các key WallpaperOriginX và WallpaperOriginY chưa? Nếu chưa có, bạn phải tự tạo chúng thôi. (Tham khảo: Cách tạo key mới)


Click chuột phải lên một khoảng trống bên cánh phải, chọn New ® String Value và gõ tên key vào. Nhấn Enter. Key WallpaperOriginX để xác định vị trí cạnh trái (giá trị dương) hay cạnh phải (giá trị âm -) của wallpaper trên desktop. Còn key WallpaperOriginY để xác định vị trí cạnh trên (giá trị dương) hay cạnh dưới (giá trị âm -) của wallpaper. Để thay đổi vị trí của wallpaper, bạn phải thay đổi giá trị (tính bằng pixel) của key tương ứng, bằng cách click đúp lên icon của key và thay đổi giá trị “Value data” của nó. Giá trị này tương ứng với khoảng cách từ mép ảnh ra tới cạnh màn hình. Chẳng hạn, nếu muốn wallpaper nằm dạt về bên phải màn hình, ở key X, bạn nhập giá trị dương (thí dụ: 200), còn ở bên trái thì dùng giá trị âm (-200). Tương tự, ở key Y, giá trị dương đẩy ảnh dạt về phía dưới màn hình và âm đẩy lên phía trên.

Để test hiệu ứng này, bạn thu nhỏ cửa sổ Registry Editor (cũng như tất cả các cửa sổ đang mở), click chuột phải lên màn hình desktop, chọn Properties. Mở tab Desktop trên bộ hộp thoại Display Properties, bấm vào một tùy chọn nào đó ở mục Position và nhấn Apply hay OK. Nếu chưa vừa ý thì quành trở vào Registry Editor mà thay đổi giá trị của WallpaperOriginX và WallpaperOriginY.
+++++++++++++++++++

4. Tìm mọi loại file

Khi bạn tìm kiếm một file nào đó trong Windows (bằng cách chọn Start ® Search ® For Files or Folders hay nhấn phím [F3] trong bất cứ cửa sổ Explorer hay folder nào để mở cửa sổ tìm kiếm), Windows chỉ tìm kiếm các định dạng file mà nó công nhận. Các định dạng file không được liệt kê trong bản danh sách 'Registered file types' sẽ bị Windows “gặp nhau làm ngơ”. (Để xem cái bản Phong Thần này, bạn chọn Tools ® Folder Options và mở tab File Types.)



Có một mẹo Registry có thể bắt Windows phải ngoan ngoãn tìm kiếm bất cứ file nào bạn cần mà không thèm quan tâm tới định dạng của nó.

Bạn mở Registry Editor, chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\ContentIndex. Click đúp lên icon FilterFilesWithUnknownExtensions bên cánh phải, thay đổi giá trị mặc định 0 trong 'Value data' thành 1, và nhấn Enter.

Để chắc cú hơn nữa, bảo đảm cho Windows không cứng đầu cứng cổ bất tuân thượng lệnh của mình, bạn mở cửa sổ Search lên, chọn All Files and Folders, kéo thanh trượt xuống để đánh dấu chọn vào các mục Search system folders, Search hidden files and folders, và Search subfolders. (Nếu không thấy các mục này, bạn nhấn vào mục More advanced options).


Sau đó, bạn mở một cửa sổ nào đó của Windows (như My Computer, Windows Explorer), nhấn lên menu Tools ® Folder Options, mở tab View, chọn Show hidden files and folders, và bỏ chọn Hide protected operating system files (Recommended). Khi có hộp thoại cảnh báo nguy hiểm, bạn cứ việc nhấn Yes. Xong thì nhấn OK.
++++++++++
5. Lộ mặt account Administrator

Theo mặc định, account "Administrator" của Windows XP được giấu, trừ khi máy bạn không có thiết đặt một account nào khác hay khi boot ở chế độ Safe Mode. Nếu muốn cho account "Administrator" lộ mặt trên màn hình Welcome của Windows, bạn có thể dùng mẹo Registry.

Mở Registry Editor, chọn mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon\SpecialAccounts\UserList. Click đúp lên icon Administrator trên cánh phải và thay đổi giá trị của nó trong “Value data” từ 0 thành 1.

Nếu không thấy có icon này, bạn phải tạo nó thôi. Bạn click chuột phải lên một khoảng trống ở cánh phải, chọn New ® DWORD Value và đặt tên cho nó là Administrator, nhấn Enter. (Tham khảo: Cách tạo key mới)

Từ nay trở đi, mỗi khi bạn mở cửa sổ User Accounts thông qua Control Panel (hay mở Start ® Run và gõ từ khóa Control userpasswords rồi Enter), bạn sẽ nhìn thấy tên account Administrator. bạn có thể dễ dàng thay đổi hình đại diện của nó hay đặt password cho nó. Rồi mỗi khi khởi động Windows, bạn cũng sẽ thấy cái account Administrator chường mặt ra trên màn hình Welcome bên cạnh tất cả các account khác.
++++++++++++++
6. Mở nhanh tới các key trong Registry

Có những key trong Registry của Windows XP mà bạn phải thường xuyên lui tới để kiểm tra và hiệu chỉnh. Thí dụ cái key HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explore\MenuOder\ dùng để xếp các danh sách ứng dụng hay link lại theo trật tự ABC (delete cái key Order). Nhưng nếu mỗi lần muốn đụng tới chúng, bạn phải mở cửa sổ Registry Editor rồi bấm chuột mở hàng loạt cây thư mục thấy mà muốn hoa cả mắt.

Mẹo xử cái vụ này là khai thác cái menu Favorites của Registry Editor. Chọn trong cánh trái của cửa sổ cái key mà mình hay phải xài thường xuyên, nhấn lên menu Favorites, chọn Add to Favorites, chọn OK trên hộp thoại Add to Favorites.

Thế là từ nay, mỗi khi muốn xử cái key này, bạn chỉ việc mở menu Favorites của Registry Editor, bấm vào tên key là nó đưa bạn tót ngay tới vị trí key đó.
+++++++++++++++++
7. Thay tên đổi họ cho Internet Explorer

Mặc định, thanh tiêu đều (title bar) của trình duệt Web Internet Explorer hiển thị tên của trang Web mà bạn đang xem, tiếp theo là chữ "Microsoft Internet Explorer". Trong một số trường hợp, trên thanh đó có tên công ty bạn hay tên của ISP cung cấp trình duyệt Web đó.

Bạn có thể thay đổi các chữ xuất hiện trên thanh tiêu đề này (sao không thay bằng tên bạn cho nó oách hén) bằng cách mở Registry Editor. Chọn HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main, click đúp lên icon Window Title và gõ vào đó những chữ gì mình muốn hiển thị. Nếu không thấy có key này, bạn tạo nó bằng cách click chuột phải lên khoảng trống ở cánh phải, chọn New ® String Value và gõ tên vào tên key Window Title. (Tham khảo: Cách tạo key mới)

Nếu không nhập chữ gì vào giá trị của key Window Title thì sau này trên thanh tiêu đề IE sẽ chỉ còn tên trang Web mà mất đi cái dòng "Microsoft Internet Explorer". Nếu muốn khôi phục lại tên cúng cơm cho "Microsoft Internet Explorer", bạn phải delete cái key này.
+++++++++++
8. Hiệu chỉnh dung lượng đĩa cho System Restore

Nếu Windows XP của bạn có bật chức năng khôi phục hệ thống System Restore, cái mẹo Registry này có lẽ hữu ích à nghen.



Để thiết đặt dung lượng dành cho System Restore, bạn vào Control Panel mở System, mở tab System Restore. Nhấn Setting và kéo thanh trượt để xác định dung lượng đĩa dành cho chức năng này. Mặc định là Max (12% dung lượng ổ đĩa mà bạn dành để chứa các dữ liệu của System Restore). Nhưng thực tế là Windows không tự động sử dụng dung lượng đĩa này mà tuân thủ theo mức mặc định trong Registry. Khi dung lượng đĩa trống còn quá ít hay khi dung lượng dữ liệu lưu trữ vượt quá mức quy định, nó sẽ đình công.

Vì thế, bạn có thể chỉnh sửa lại các giá trị của System Restore trong Resgistry. Mở Registry Editor, chọn HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\SystemRestore. Bạn xem bên cánh phải có 3 key xác định dung lượng ổ đĩa cho System Restore.



Đó là DiskPercent (tỷ lệ đĩa cứng thiết đặt trong Setting); DSMax (dung lượng đĩa mặc định tối đa mà Registry cho phép System Restore sử dụng, tính bằng MB, giá trị chung là 400); và DSMin (dung lượng đĩa mặc định tối thiểu, giá trị chung là 200MB). Bạn thấy là dung lượng DSMax mặc định rất thấp so với thực tế mà bạn muốn dành cho nó. Hãy click đúp chuột lên icon DSMax, chọn hệ số thập phân Decimal và thay giá trị trong “Value data” từ 400 tới con số mà bạn muốn. Còn ở DSMin, để tránh tình trạng System Restore “bỏ việc” khi thấy dung lượng đĩa trống còn 200MB, bạn click đúp chuột lên key này vào thay giá trị Decimal còn 100 (tức 100MB).

Thủ thuật bảo vệ ổ cứng và tăng tốc ổ cứng

Ổ cứng máy tính của bạn bị mất hay bị nhiễm virus khiến cho hệ điều hành Windows không thể khởi động được. Vậy bạn đã có công cụ nào giúp bạn có thể lấy lại dữ liệu một cách nhanh chóng chưa hay giúp bạn tăng tốc ổ cứng chưa?

Khôi phục đơn giản

Windows Recovery Console (WRC) trong Windows XP thực sự là một công cụ rất an toàn hiệu quả và dễ sử dụng. Đây là một công cụ chạy trên một môi trường khá giống với DOS, cho phép bạn có thể sao chép dữ liệu tệp tin, sửa chữa những lỗi trong phần khởi động (boot sector)… mà không cần phải khởi động hệ điều hành. Lấy ví dụ, nếu Windows của bạn không thể khởi động bạn có thể khởi động WRC và sử dụng tính năng sửa chữa lỗi khởi động hoặc dùng lệnh “fixmbr” với hy vọng sẽ sửa được mọi lỗi phát sinh.

Để khởi động Recovery Console, bạn hãy đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD rồi khởi động lại máy tính – chú ý bạn phải chắc chắn máy tính của bạn có thể khởi động từ ổ CD. Khi trình cài đặt Windows XP xuất hiện bạn hãy bấm phím R để khởi động ứng dụng. Khi bạn thấy hiện ra “Windows NT Boot Console Command Interpreter” thì hãy bấm phím số 1 hoặc bất kỳ phím gì mà bản cài đặt hệ điều hành của bạn gợi ý ra rồi sau đó bấm phím Enter, nhập mật khẩu đăng nhập Administrator.

WRC sử dụng nhiều lệnh tương tự như trong Command Prompt. Bạn hoàn toàn có thể sử dụng các lệnh như attrib, cd, copy, del, dir, exit, md, ren, rd, set, và type tương tự như trong DOS.

Tuy nhiên, Recovery Console vì mục đích bảo mật nên thường không cho phép bạn có quyền truy nhập vào một số thư mục trên ổ cứng của bạn. Nếu bạn không gỡ bỏ những hạn chế này trước – nên gỡ bỏ khi hệ điều hành của bạn còn đang hoạt động bình thường – thì sẽ khó có thể thực hiện việc sao chép hay bất kỳ tác vụ nào với những thư mục này.

Để gỡ bỏ những hạn chế này bạn hãy thực hiện tác vụ sau khi hệ điều hành của bạn còn hoạt động bình thường. Bạn vào trình quản lý Local Security Settings bằng cách vào Run và nhập lệnh “secpol.msc” hoặc vào Start | Setting | Control Panel | Administrator Tools | Local Security Settings, sau đó chuyển đến mục Security Settings | Local Policies | Security Options, nhắp đúp chuột lên mục Recovery Console: Allow floppy copy and access to all drives and all folders item rồi chọn Enabled là xong.

Lần khởi động kế tiếp nếu Windows không khở động thì bạn hãy khởi động WRC rồi nhập vào dòng lệnh “set AllowAllPaths = true” rồi ấn Enter.

Tăng tốc ổ cứng và giảm nguy cơ hỏng hóc

Khi mà ổ cứng của ngày càng đầy lên, hệ điều hành sẽ “nhét” những tệp tin dữ liệu mới lên ổ cứng vào bất kỳ chỗ nào còn khoảng trống. Đôi khi khi có những tệp tin sẽ bị chia ra thành rất nhiều những phần nhỏ khác nhau để cho phù hợp với dung lượng khoảng trống còn lại trên ổ đĩa. Nếu có quá nhiều tệp tin bị chia nhỏ - hay còn gọi là phân mảnh – thì không những ổ cứng của bạn mà cả hệ điều hành của bạn đều sẽ bị chậm đi rất nhiều không những thế mà còn tăng nguy cơ bị mất dữ liệu.

Giải pháp ở đây là bạn có thể sử dụng công cụ dọn phân mảnh của hệ điều hành Disk Defragmenter bằng cách vào Start | All Programs | Accessories | System Tools rồi chọn ổ đĩa bạn muốn “dọn dẹp” nhấp Ok rồi ngồi chờ.

Tuy nhiên, có một số tệp tin mà bạn không thể di chuyển được trong quá trình thực hiện dọn dẹp phân mảnh ổ cứng. Những tệp tin này vẫn bị phân mảnh ngay cả sau khi bạn đã chạy Disk Defragmenter. Hầu hết các tệp tin dữ liệu này là Master File Table (MFT) hoặc SWAP (RAM ảo).

Cách duy nhất là dọn dẹp các tệp tin SWAP là phải xoá những tệp tin này trước khi sử dụng công cụ Disk Defragmenter – tuy nhiên bạn hãy cẩn thận chắc chắn rằng hệ thống của bạn có ít nhất 256MB RAM thì mới có thể bỏ tệp tin SWAP đi được.

Để bỏ tệp tin SWAP bạn hãy vào Control Panel | System | Advanced tab | Performance Settings | Advanced tab | Change. Tại mục Virtual Memory bạn chọn “No paging file” nhắp vào Set rồi OK là xong. Giờ bạn hãy thực hiện công việc dọn dẹp phân mảnh ổ cứng. Sau khi đã dọn dẹp xong bạn hãy vào lại mục Virtual Memory thiết lập thông số cho RAM ảo của bạn. Tăng RAM ảo có thể giúp hệ thống của bạn tăng tốc. Nếu còn dư ổ cứng thì bạn hãy đặt Initial size là 500Mb và Maximum size là 2048MB thì không những ổ cứng mà cả những tệp tin MP3 sẽ nghe hay hơn rất nhiều.

Còn đối với những tệp tin MFT - những tệp tin hệ thống chỉ có mặt trên các ổ cứng định dạng NTFS – thì không thể di chuyển được. Khi mà ổ cứng của bạn lưu càng nhiều dữ liệu thì các tệp tin MFT cũng tăng dung lượng và bị phân mảnh. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là bạn không thể di chuyển được chúng, một thủ thuật sửa Registry sẽ giúp bạn giải quyết được vấn đều này. Bạn vào Run và gõ lệnh regedit để mở trình biên tập Registry. Sau khi trình biên tập Registry khởi động bạn hãy tìm đến khoá HKEY_ LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Filesystem rồi nhắp đúp lên khoá NtfsMftZoneReservation bên phía tay phải và nhập giá trị trong khoả từ 2 đến 4 vào đó – giá trị mặc định là 1 tương đương với 12,5% dung lượng ổ cứng dành cho tệp tin MFT, giá trị 2-3 là là từ 25-37,5% và 4 là 50%. Đóng trình biên tập Registry rồi khở động lại hệ thống của bạn.

Tìm kiếm sự đơn giản

Ổ cứng của bạn sẽ thực sự chạy nhanh và ổn định hơn rất nhiều nếu còn nhiều khoảng trống. Bạn đã back-up lại dữ liệu, mã hoá và tối ưu hoá dữ liệu của mình nhưng vẫn còn có nhiều việc phải làm.

Việc thứ nhất là dọn dẹp mọi chương trình ứng dụng không cần thiết, dọn dẹp những phần mềm gián điệp nguy hiểm, virus máy tính…

Tiếp theo là việc dọn dẹp những tệp tin dữ liệu không cần thiết trên các ổ cứng. Bạn hãy vào Start | All Programs | Accessories | System Tools | Disk Clean-up để bỏ hết những tệp tin thừa, tệp tin tạm thời,…

Qua bài viết này chúng tôi chỉ xin đề cập đến ở đây những khía cạnh cơ bản nhất giúp bạn có thể tăng tốc phần nào hệ thống và bảo vệ dữ liệu cũng như ổ cứng của bạn.

Những nguyên nhân khiến máy tính hoạt động chậm

Các chương trình và tệp tin trên máy tính mới “đập hộp” luôn có tốc độ hoạt động nhanh như chớp. Đáng tiếc, "phong độ" của chúng không kéo dài và dần mất đi khả năng ban đầu.

Có nhiều lý do khiến máy tính chạy chậm nhưng chủ yếu rơi vào 3 vấn đề: thiết kế phần cứng, virus - spyware, hoặc PC gặp trục trặc xuất phát từ chính những biện pháp được áp dụng để sửa hai nguyên nhân trên.
Vấn đề ổ cứng

Tệp tin có dung lượng nhỏ thường được xếp vào vùng “chưa được sử dụng” - khoảng trống còn lại giữa các file. Những file lớn hơn lại bị xẻ nhỏ thành nhiều phần khác nhau, nằm rải rác, lộn xộn và tốn diện tích ổ cứng.

Sự phân đoạn file (fragmentation) càng nhiều, quá trình tập hợp lại thông tin và xếp chúng theo trật tự càng lâu. Hơn nữa, tìm được một vùng trống để lưu dữ liệu cũng mất rất nhiều công sức. Khi đó, tốc độ hoạt động của máy tính sẽ bị giảm xuống, đặc biệt là trong quá trình chuyển đổi menu và truy cập file.

Một trong những biện pháp đơn giản nhất để đối với PC “rùa” nằm ngay trong hệ điều hành Windows: tiện ích Disk Defragmenter và Disk Cleanup, được truy cập qua Start menu/ Accessories/System Tools.

Disk Cleanup kiểm tra ổ để tìm những chương trình không cần thiết như file Internet tạm thời. Chạy phần mềm “dọn dẹp” này mỗi tháng một lần sẽ giúp ổ cứng luôn ngăn nắp.

Disk Defragmenter là chương trình rất đáng tin cậy. Nó phân tích hiện trạng ổ cứng, tối ưu hóa thư mục và tệp tin, sau đó "gom" các bộ phận của file lại và xếp ở vị trí liền kề nhau. Khi đó, khả năng vận hành của PC và tốc độ truy cập file tăng lên đáng kể.

Trong khi đó, gói sản phẩm Norton SystemWorks 2006 (69,99 USD) của Symantec gồm chức năng giảm phân tán (defrag) ổ cứng, xóa mục nhập Windows Registry cũ và sửa những tệp DLL có khả năng gây trục trặc hệ thống. PerfectDisk 7.0 (39,95 USD) của công ty Raxco Software cũng defrag và tập hợp khoảng trống nhằm giúp ổ cứng chạy theo trật tự trong một thời gian dài.

Một trong những thao tác cần thiết là xóa chương trình thừa trước khi sử dụng trình giảm phân tán bằng cách mở Control Panel, chọn tính năng Add/Remove, đánh dấu những ứng dụng không bao giờ dùng và bấm nút Remove.
Phần mềm không cần thiết

Ổ cứng vốn đã lộn xộn, máy tính lại còn phải "còng lưng" trước một danh sách dài những phần mềm được kích hoạt cùng thời điểm PC khởi động. Chúng thường là những chương trình được cài sẵn từ trước do sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất PC và các hãng phần mềm.

Rất nhiều phần mềm được cấu hình để hoạt động ngay khi máy tính được bật lên dù khách hàng không hề dùng đến chúng. Ít người để ý tới điều này bởi chúng không hiển thị rõ ràng trên màn hình. Tuy nhiên, chúng có một biểu tượng ở khay hệ thống và cứ yên vị nằm đó chờ ngày được khám phá.

Những chương trình này tiêu tốn rất nhanh nguồn năng lượng của hệ thống. Thông thường, một PC cần khoảng 85 - 90% bộ nhớ trống sau khi khởi động. Nhưng nhiều phần mềm chạy cùng thời điểm bật máy có thể bòn rút tới 50% bộ nhớ trước khi mọi người kích hoạt ứng dụng thực như trình xử lý văn bản hay trình duyệt web.

Để gỡ bỏ những ứng dụng không cần thiết, bấm Start, chọn Run, gõ msconfig và bấm OK. Lệnh này mở ra một công cụ cấu hình hệ thống tích hợp. Trong thanh Start-Up, lựa chọn chương trình muốn tắt, sau đó bấm OK. Lặp lại quá trình này nếu muốn một ứng dụng vừa gỡ hoạt động trở lại mỗi khi mở máy tính.
Virus và spyware

Virus, spyware (phần mềm gián điệp) và adware (phần mềm quảng cáo) cũng là một lý do khiến máy tính hoạt động "như rùa bò". Thuật ngữ “spyware” ám chỉ những chương trình chuyên xen vào hoạt động của PC như âm thầm thu thập thông tin cá nhân về người dùng hay cấu hình lại máy tính. Trong khi đó, “adware” chỉ phần mềm được các công ty quảng cáo hỗ trợ, còn “malware” là chương trình nguy hiểm (virus, sâu, Trojan…) gây trở ngại hoặc phá hỏng các ứng dụng PC.

Để bảo vệ hệ thống trước nguy cơ trên, người dùng thường phải cài thêm công cụ chống spyware, tường lửa hoặc bộ lọc spam… Những biện pháp bảo mật đó có thể làm giảm 15% tốc độ vận hành của máy tính.

“Máy tính hoạt động chậm do phần mềm nguy hiểm chạy trên nền sau của PC, nhưng cũng một phần vì các công cụ an ninh có dung lượng quá lớn”, Leon Rishniw, Phó giám đốc kỹ thuật của hãng bảo mật máy tính CloudMark (Mỹ), nhận xét. “Ngoài ra, nhiều ứng dụng bên thứ ba, như chương trình chia sẻ ngang hàng, không chỉ có chất lượng kém mà còn cài spyware và những thành tố khó xóa bỏ khác vào hệ thống”.

Mọi người chỉ cần cài một chương trình bảo vệ bởi việc sử dụng 2 - 3 phần mềm cùng lúc có thể làm gián đoạn những ứng dụng khác. Riêng spyware là một chương trình phức tạp và dễ bị bỏ sót, người dùng nên chạy thêm một công cụ nữa.

Để giảm nguy cơ và tăng tốc độ máy tính, mọi người nên quét hệ thống ít nhất một lần mỗi ngày. Hai công cụ miễn phí và được đánh giá cao hiện nay là SpyBot và Ad-Aware của Lavasoft. Ngoài ra Microsoft AntiSpyware Beta 1 cũng hỗ trợ bảo vệ hệ thống theo thời gian thực.

TANG TOC FIREFOX

Trên đấu trường trình duyệt web hiện nay, khó có đối thủ nào bì kịp Mozilla Firefox về tốc độ và sức mạnh bảo mật, tuy nhiên điểm yếu cố hữu mà bạn có thể dễ dàng nhận ra ở Mozilla Firefox chính là một trình quản lý download được thiết kế quá chân phương. Nhằm khắc phục mặt khuyết này, nhóm dTa đã tích hợp vào Mozilla Firefox một trình quản lý download siêu cấp có dung lượng siêu nhỏ (395 KB), đó là DownThemAll!.



DownThemAll! sẽ là một sự bổ sung hoàn hảo cho Mozilla Firefox với bộ lọc link thông minh, khả năng download cùng lúc nhiều file khác nhau trong trang web của Mozilla Firefox, hỗ trợ tính năng resume cho phép dừng và phục hồi tiến trình download bất cứ khi nào bạn muốn, nhưng tuyệt vời hơn hết là nó có thể giúp tăng tốc độ download file của Mozilla Firefox lên đến 600% (với những máy sử dụng kết nối băng thông rộng). Có cần sử dụng thêm một trình quản lý download của hãng thứ ba khi bên cạnh Mozilla Firefox đã có DownThemAll!?

Bạn tải về miễn phí phiên bản mới nhất DownThemAll! 0.9.8.7 tại địa chỉ sau: www.zshare.net/download/dta-xpi.html.

Sau khi tải xuống, bạn copy file dta.xpi vào thư mục Program Files\Mozilla Firefox\extensions. Khởi động lại Mozilla Firefox và trong hộp thoại xuất hiện, bấm nút Install Now để hoàn tất việc cài đặt. Từ giao diện chính của Mozilla Firefox, bạn vào menu Tools > DownThemAll > Preferences để mở cửa sổ thiết lập thông số hoạt động cho DownThemAll!. Những tùy chọn tại các tab Renaming, Filter, Aspect và Privacy, bạn có thể giữ nguyên như thông số khuyến cáo; riêng với tab Main, bạn cần thay đổi một vài thông số quan trọng tại các mục dưới đây:

- If a file name already exists: 4 tùy chọn được đưa ra khi bạn tải trùng file, bao gồm: Rename (đổi tên file tải sau), Overwrite (đè lên file đã tải), Skip (bỏ qua không tải) và Ask (hỏi ý kiến của bạn).
- Simultaneous downloads > Start simultaneously a maximum of: xác định số lượng tác vụ cho phép download cùng lúc với DownThemAll! (mặc định là 7).

- Multipart settings > Maximum number of chunks per download: lựa chọn khả năng chia nhỏ một tập tin khi download với DownThemAll! (mặc định là 5).

- Time Out: xác định khoảng thời gian chờ khi DownThemAll! chưa kết nối thành công với server chứa file cần download (mặc định là 5 phút).

Cách sử dụng khá đơn giản. Để download một file nào đó với DownThemAll!, bạn bấm chuột vào link chứa file. Trong hộp thoại xuất hiện, đánh dấu ở mục DownThemAll! rồi bấm OK. Trong hộp thoại Browse For Folder, bạn chọn thư mục lưu file rồi bấm OK. Ngay sau đó, hộp thoại quản lý download của DownThemAll! sẽ xuất hiện và tự động thực hiện download file. Ở những lần download sau, trong hộp thoại xuất hiện sau khi bạn bấm chuột vào link chứa file sẽ có thêm tùy chọn Turbo-DTA! với nơi lưu file là thư mục mà bạn đã chọn ở lần download đầu tiên.

Khi muốn download cùng lúc nhiều file khác nhau, bạn bấm phải chuột vào một nơi bất kỳ trong trang web và chọn thẻ DownloadThemAll!. Trong hộp thoại xuất hiện, tại mục Save files in, bạn bấm nút Browse và chọn thư mục lưu file. Tại mục Filters, bạn lọc ra những định dạng file sẽ download bằng cách đánh dấu ở 4 tùy chọn là: Archives (file nén), Video (file video), Images (file hình ảnh) hoặc All files (tất cả file). Sau cùng, lựa chọn những link muốn download trong danh sách URL và bấm nút Start download!. Nếu chỉ muốn download những file hình ảnh có trong trang web, bạn bấm vào thẻ Pictures phía trên, đánh dấu ở những link chứa hình ảnh và bấm nút Start download! thì quá trình download sẽ diễn ra nhanh hơn.

MEO VAT 1

Tắt tiếng bíp của hệ thống. Những lúc lỡ tay nhấn nhiều phím cùng lúc, PC lại ré lên những tiếng bíp rất khó chịu. Bạn có thể dẹp yên âm thanh này bằng cách vào Start > Run > nhập regedit > mở HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Sound > click chuột phải lên string Beep và chọn Modify > thay đổi giá trị từ Yes thành No, click OK và khởi động lại máy tính.


Thay đổi thư mục cài đặt chương trình. Nếu muốn di dời các chương trình cài đặt thêm cho PC vào thư mục khác thay vì Program Files như mặc định thì thủ thuật sau sẽ giúp bạn: Vào Start > Run > nhập regedit > mở HKEY_LOCAL_MACHINE\
Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion. Nhấp đúp chuột vào ProgramFilesDir và nhập địa chỉ mới trong Value data > Enter và khởi động lại máy.

Tắt thông báo Disk Cleanup. Đối với bạn, việc đĩa cứng có chứa quá nhiều dữ liệu cũng chẳng ảnh hưởng gì đến "hòa bình thế giới", thế nhưng WinXP cứ liên tục nhắc nhở bạn khi dung lượng bộ nhớ còn quá ít, cho đến khi bạn "đầu hàng" và xóa file theo yêu cầu. Cách trị bệnh "nhiều chuyện" này của WinXP: nhập regedit vào hộp thoại Run trong Start > vào HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer > click chuột phải và chọn New DWORD Value, đặt tên là NoLowDiskSpaceCheck. Sau đó bạn lại click chuột phải lên giá trị vừa tạo > Modify > nhập 1 vào Value data. Tất nhiên là không quên khởi động lại máy tính để lưu thay đổi.

Boot Defragmenter. Bạn có thể giúp WinXP khởi động nhanh hơn bằng cách đặt tất cả các file khởi động "chung một mái nhà" để quá trình truy xuất diễn ra nhanh hơn. Để thực hiện được nhiệm vụ tưởng chừng bất khả thi này, bạn mở Registry Editor bằng cách nhập regedit vào hộp Run trong Start > vào HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Dfrg\BootOptimizerFunction > chọn Enable > mở menu chuột phải, chọn Modify > thay đổi giá trị thành Y và khởi động lại máy. Nếu muốn tắt chức năng này bạn chỉ đơn giản thực hiện lại các bước trên và thay đổi Y thành N.

Tự khởi động máy tính. Đã có chương trình giúp máy tính tự shut down vào giờ cố định, vậy còn việc tự khởi động theo giờ đã đặt sẵn thì sao? Bạn có thể thực hiện được việc này với Windows XP Scheduled Tasks Wizard, đặc biệt là khi bạn cần quét virus hay chạy Disk Defragmenter trong thời gian bạn không dùng đến PC.

Vào Start > Programs > Accessories > System Tools > Scheduled Tasks, lần lượt thực hiện các bước: chọn chương trình mà bạn muốn chạy để "đánh thức PC", mức độ thường xuyên thực hiện việc này, nhập mật khẩu đăng nhập, cuối cùng bạn chọn Open Advanced Properties for This Task When I Click Finish và nhấn Finish. Khi cửa sổ mới xuất hiện, bạn chọn thẻ Settings, đánh dấu tick trước hộp Wake the computer to run this task. Trong thẻ Schedule, chọn ngày và giờ cụ thể, click Apply và OK. Một điều cần hết sức lưu ý là chương trình chỉ được thực hiện khi máy tính để ở chế độ Hibernation. Nếu không thấy nút Hibernate trong menu Shut down, bạn chỉ việc giữ phím Shift.